cauvonghanhphuc.com

Bài viết 02/2017

Hồ Xuân Hương học lớp mấy?

Ghé xích lô tới cửa, ông nhà thơ đã nghe chủ nhà đuổi quầy quậy: “Ông về đi, tôi đang bực mình đây. Quân cờ tôi ném xuống cống rồi”. Sợ bạn giận, bà chủ vội chạy ra, kéo bằng được khách vào nhà, pha chè, rồi ấn chồng ngồi xuống ghế:
 
-Bác bỏ qua cho, ông nhà cháu vừa cãi nhau với thằng cháu nội. Người già hay chấp vặt, thằng bé mới mười tuổi đầu, đã biết gì. Nghe người ta nói các ca sĩ bây giờ phải có giấy phép mới được đi hát. Ai không học hết phổ thông, ai mù nhạc phải ngồi nhà. Thằng bé mới hỏi ông nó có giấy phép diễn kịch không, thế là nhà tôi nổi cơn lôi đình lên. Rõ khổ, nó sợ ông chạy đi đâu rồi không biết...
 
Rõ tình đầu, ông nhà thơ cười sặc sụa:
 
- Nhưng bác là nghệ sĩ ưu tú rồi, ai cấm bác diễn kịch. Người ta mới cấp phép cho ca sĩ, đã động đến cánh diễn kịch, đóng phim, tạc tượng và cả đám nhà thơ như tôi đâu mà vội sợ.
 
- Sợ thì không sợ nhưng nhục lắm. Nó bảo tôi không học hành, không được đào tạo nghề kịch, khi nào người ta sờ đến là “hết hơi”. Theo nghề mấy chục năm, giờ thành thằng nghệ sĩ chui trong mắt thằng cháu nội. Tôi hỏi ông, bà Hồ Xuân Hương học lớp mấy? Ông Sáu Lầu sư tổ cải lương học lớp mấy, có biết xướng âm không?
 
- Ấy là các nhà quản lý văn hóa muốn dẹp lộn xộn thị trường ca nhạc. Ca nhạc tây, ta mới kiếm ăn được, mới cần giấy phép kinh doanh, chứ diễn kịch như bác, làm thơ như tôi, biếu vé tặng thơ người ta còn đuổi theo trả lại, giấy phép mà làm gì.
 
- Nói thế còn nghe tạm được. Nhưng ra chính sách thì phải cho đồng bộ, phải biết nghệ rồi hẵng sĩ.
 
- Nói thế là nói trong nhà đấy nhé. Bàn cờ đâu, vứt thật rồi hả?
 
- Vứt trong tủ kia kìa. Thôi, làm một ván. 
 
Vũ Duy - Báo Gia đình & Xã hội số 29 (78) năm thứ hai (từ ngày 20/7 đến 27/7)/2000
 

Dân số mọi miền: Phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây xã hội hóa công tác DS - KHHGĐ

• Hải Dương: Một thôn của huyện Ninh Giang 6 năm liền không có người sinh con thứ ba
Thôn Đen (xã Ninh Thành) đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động DS - KHHGĐ. Cả xã hiện có 515 người (bằng 78% số người trong độ tuổi sinh đẻ) sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại. Đến nay, tỉ lệ phát triển DS của xã hạ xuống còn 0,8%. 
PV
 
• Quảng Nam: Thị xã Hội An giảm tỉ lệ người sinh con thứ ba
Để tạo điều kiện và mở rộng diện “khách hàng” từ đầu năm 2000, UB DS - KHHGĐ thị xã đã cùng với các ngành, đoàn thể tổ chức Tuần DS & SKSS được tổ chức thường xuyên từ ngày 20 - 26 mỗi tháng, hoạt động này đã trở thành nền nếp, thường xuyên trong kế hoạch hoạt động của hệ thống DS - KHHGĐ, ngành Y tế và các đoàn thể. Kết quả 6 tháng đầu năm 2000, tỉ lệ người sinh con thứ 3 trở lên còn 13% trên tổng số sinh, không có người nạo thai, tỉ số phụ nữ hút ĐHKN giảm từ 1/1 xuống còn 0,2/1 so với số sinh, góp phần đáng kể vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình.
NGỌC VINH
 
• Hà Tây: Phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây xã hội hóa công tác DS - KHHGĐ 
Đến ngày 30/6/2000 phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, Hà Tây đã hoàn thành nhiều chỉ tiêu về công tác DS - KHHGĐ 6 tháng đầu năm 2000. Số sinh chỉ tiêu 128, đã sinh 152 tỉ lệ 0,57%. Dụng cụ tử cung 99/130; Bao cao su 170/160 chỉ tiêu cả năm bằng 106%. Thuốc tránh thai đạt 53/54 chỉ tiêu cả năm bằng 117%.
NGUYỄN CẢNH
 
• Đồng Tháp: 6 tháng đầu năm 2000 thị xã Sa đéc có 2.998 người thực hiện KHHGĐ
6 tháng đầu năm thị xã Sa đéc có 2.998 người thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 98,2% kế hoạch tăng 8,56% so với cùng kỳ năm 1999. Dẫn đầu phong trào là phường 1 một đạt 151,8%, xã Tân Qui Đông đạt 120%, phường 3 đạt 101%, các xã phường còn lại đều đạt trên 75%. Sa đéc còn phối họp các ngành tổ chức 418 cuộc truyền thông, phát hàng ngàn tờ bướm về KHHGĐ cho nhân dân, các xã phường đều tổ chức hội thi cộng tác viên DS giỏi; thi hái hoa dân chủ.
NGỌC ÁNH
 
• Cà Mau: Năm 2000 thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình làm tốt công tác DS
Thới Bình hiện có khoảng 1.452 cặp vợ chồng trong diện tuổi sinh đẻ. Đến nay, toàn thị trấn vận động được 1.294 cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai tỉ lệ CPR đạt 98,12%. Thị trấn hiện duy trì mô hình gia đình không sinh còn thứ ba, được khép kín ở 5 ấp và một khóm, có 777 cặp vợ chồng trẻ cam kết thực hiện.
Do có sự điều tiết hài hòa giữa dân số và phát triển kinh tế xã hội nên trong năm 1999 nâng thu nhập bình quân đầu người dân thị trấn lên 4,5 triệu/đồng/năm, số hộ nghèo còn xấp xỉ 4%.
KIM HÀ
 
Báo Gia đình & Xã hội số 29 (78) năm thứ hai (từ ngày 20/7 đến 27/7)/2000
 

Chế tạo thành công tàu cao tốc ITC

• Thuốc chữa bệnh tiểu đường lại công hiệu với ung thư?
 
Tại Hoa Kỳ, một loại thuốc chữa bệnh tiểu đường tên là Troglitatone do tập đoàn Wamer - Lambert sản xuất đã bị cấm bán trên thị trường sau khi làm thiệt mạng 63 người do tác dụng xấu tới gan, hóa ra lại có những ảnh hưởng tích cực đối với căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
 
TS Mattew Smith - người lãnh đạo công trình nghiên cứu này - cho biết: Thông thường, mức độ nghiêm trọng của căn bệnh được xác định bằng tỉ số kháng nguyên tuyến tiền liệt chuyên biệt (PSA) được sinh ra đồng thời với sự “bùng nổ” lượng tế bào ung thư. Ông đã thực hiện những điều trị thử nghiệm ban đầu bằng Trogglitazone trên 41 bệnh nhân sau khi chú ý thấy loại thuốc này ảnh hưởng trực tiếp tới một cơ quan tiếp nhận tế bào, gọi là PRAR - gamma và có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc làm cho tế bào lớn dần lên, trở nên khác biệt so với các tế bào khác. Kết quả là, trong số 41 bệnh nhân sau khi dùng thuốc Troglitazone có 1 người giảm PSA tới xấp xỉ không, với 7 người khác chỉ số này tụt xuống chỉ còn 50%; 33 người còn lại không phản ứng.
 
ÁNH THU (Theo Reuteurs)
 
• Campuchia: Ngành giáo dục tham gia phòng chống AIDS
 
Các nhà giáo dục Campuchia vừa cho phát hành một cuốn sách giáo khoa nhằm mục đích ngăn chặn thảm hoạ chết chóc đứng hàng thứ hai ở Campuchia do sự lây nhiễm tràn lan và nhanh chóng virus HIV dẫn đến bệnh AIDS. Cuốn sách cung cấp những hiểu biết căn bản về virus HIV và bệnh AIDS, được phân bố trong 30 tiết học, dùng để giảng dạy cho học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 bậc trung học phổ thông.
 
• Chế tạo thành công tàu cao tốc ITC
 
Các Công ty German Waggonbau (DWA), Siemens và Fiat vừa hợp tác chế tạo thành công tàu cao tốc ICT đầu tiên. Tàu có thể đạt tốc độ 230 km/h và được lắp đặt các hệ thống điều khiển đặc biệt cho phép tàu nghiêng được khi vào các đường cua để đảm bảo an toàn. Dự tính tàu sẽ được đưa ra sử dụng vào cuối năm 2000 trên tuyến đường giữa Stugart và Zurich (Thụy Sĩ). 
 
N.C (theo BBC 7/2000)
 
Báo Gia đình & Xã hội số 29 (78) năm thứ hai (từ ngày 20/7 đến 27/7)/2000

Vì sự sinh tồn của dân tộc Trung Hoa (Phần 2)

• Coi con người là trung tâm phát triển toàn diện, tôn trọng quần chúng nhân dân, coi đó là mấu chốt của công tác DS - KHHGĐ, đảm bảo duy trì quyền lợi hợp pháp giúp nhân dân làm giàu xây dựng gia đình văn minh hạnh phúc.
Quyết định cũng đã chỉ đạo việc hoàn thiện công tác DS - KHHGĐ và chính sách KT - XH vĩ mô tương quan với dân số. Tăng cường xây dựng pháp chế DS - KHHGĐ để đưa đến công tác quản lý DS - KHHGĐ theo con đường pháp luật. Theo kế hoạch, tháng 6 năm 2000 sẽ dự thảo xong Luật Dân số trong khuôn khổ 48 trang, bao gồm 3 vạn chữ Trung Quốc.
 
Một giải pháp tiên quyết cũng đã được quyết định nhấn mạnh: tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác DS - KHHGĐ. Hàng năm tổ chức tọa đàm về chuyên đề DS - KHHGĐ và đưa công tác này vào danh mục thanh tra lớn của TW. Các tỉnh và khu tự trị hàng năm phải báo cáo chuyên đề về TW. Vấn đề cán bộ cũng được chú trọng. Ngoài các biện pháp nâng cao trình độ nghiệp vụ và chế độ thi tuyển, tuyển dụng kiểm tra hàng năm, quyết định đã ghi rõ: cán bộ Đảng và cán bộ dân số phải gương mẫu, không lợi dụng chức quyền để đẻ thêm con. Cán bộ đẻ thêm phải chịu kỷ luật hành chính, đảng viên đẻ thêm phải chịu kỷ luật Đảng.
 
Do xác định công tác DS - KHHGĐ là một sự nghiệp mang tính công ích và mang lại hiệu qủa rõ rét nên TW đã chỉ thị: “Kinh phí phục vụ cho công tác DS - KHHGĐ được đưa vào dự toán tài chính của chính phủ, hạch toán chi phí thuộc ngân sách Nhà nước. Đến năm 2005 kinh phí chi cho sự nghiệp DS - KHHGĐ của các cấp bình quân khoảng 10 tệ/người/tháng”.
 
Dân số là một vấn đề lớn mà Trung Quốc đã xác định phải đối mặt lâu dài trong thời kỳ đầu của CNXH, là yếu tố quan trong dẫn dắt nền kinh tế và sự phát triển của xã hội, nâng cao tố chất đạo đức. Công tác DS - KHHGĐ là quốc sách cơ bản mà Trung Quốc phải làm lâu dài, làm kiên trì và một khi đã đạt được mức sinh thấp (15%o) thì nhiệm vụ chính đặt ra là: “Nâng cao chất lượng dân sinh, tỷ lệ sinh ổn định ở mức thấp, xuất phát từ lợi ích lâu dài của toàn xã hội. Toàn Đảng và toàn dân phải nhìn vào tương lai xây dựng CNHX và sự sinh tồn, sự phát triển của dân tộc Trung Hoa”.
 
T.S TRẦN VĂN CHIẾN - Báo GĐ&XH số 27 (76) (từ ngày 6/7 đến 13/7)/2000

Vì sự sinh tồn của dân tộc Trung Hoa (Phần 1)

Chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ) ở Trung Quốc được bắt đầu từ năm 1970. Nhờ phấn đấu nỗ lực gian khổ của toàn Đảng toàn dân đã đạt được những kết quả đáng kể. Dân số năm 2000 của quốc gia đông dân nhất hành tinh là 1,265 tỉ người với mức sinh 15%o, tăng dân số tự nhiên 0,9%o, số con trung bình cho một phụ nữ là 1,8 con.
Nhằm khống chế số dân không vượt qúa 1,4 tỉ vào năm 2010, ngày 2/3/2000, TW Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành quyết định tăng cường công tác DS - KHHGĐ, đảm bảo tỉ suất sinh ở mức thấp nhất và ổn định và coi đó là nhiệm vụ gian nan, trọng đại của thế kỷ XXI. Hàng năm dân số Trung Quốc vẫn tăng thêm khoảng 10 triệu người. Giải quyết các công tác dân số có quan hệ trực tiếp đến cải thiện cuộc sống và sự thịnh suy của dân tộc Trung Hoa.
 
Nhằm đạt được mục tiêu cho 10 năm tới, bao gồm cả hoàn thiện công tác quản lý và bảo hiểm về sinh đẻ có kế hoạch, Quyết định của TW Đảng đã đề ra 5 phương châm cụ thể:
 
• Tổng hợp phát triển dân số, nhanh chóng phát triển KT - XH, coi trọng công tác giáo dục và khoa học, không ngừng nâng cao mức sống và dân trí, đưa công tác DS - KHHGĐ vào nội dung quy hoạch tổng thể của phát triển KT - XH, soạn thảo hoàn thiện các chính sách đồng bộ, thúc đẩy điều tiết việc phát triển kinh tế, dân số và xã hội.
 
• Thực hiện chính sách dân số hiện hành, khuyến khích xây dựng gia đình muộn và có con muộn. Khuyến khích mỗi gia đình sinh một con. Căn cứ vào pháp quy sắp xếp hợp lý cho những gia đình được sinh con thứ hai. Dân tộc ít người cũng phải thực hiện KHHGĐ. Với các dân tộc ít người các văn bản chính sách quy định cụ thể về SĐKH do các địa phương, khu tự trị trực thuộc soạn thảo và trình duyệt để thi hành.
 
• Động viên lực lượng toàn xã hội tham gia, xây dựng cơ cấu với sự tham gia của đông đảo quần chúng, chính phụ lãnh đạo, các ban ngành phối hợp lẫn nhau, vinh hoa cùng hưởng, trách nhiệm cùng gánh vác. Áp dụng phương pháp quản lý thông qua Luật Giáo dục, Hành chính và Kinh tế.
 
• Kết hợp giữa sự chỉ đạo của Nhà nước với sự tự nguyện, tự giác của quần chúng. Nhà nước ban hành các chính sách, biện pháp bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài cho nhân dân, kết hợp quản lý hành chính với quần chúng tham gia quản lý.
 
Cả nước làm tốt công tác DS - KHHGĐ, thúc đẩy toàn diện, phân loại chỉ đạo, tiếp tục coi nông thôn làm trọng tâm, nhất là khu vục miền Trung, miền Tây, phát huy tính mẫu mực của thành phố và của miền Đông. Làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục, lấy phương châm tránh thai là chính, thưòng xuyên nhắc nhở giảo dục và cân đối việc triển khai công tác ở các khu vực khác nhau.
 
T.S TRẦN VĂN CHIẾN - Báo GĐ&XH số 27 (76) (từ ngày 6/7 đến 13/7)/2000

Internet dân số: Tuốc-mê-ni-xtan

(Quốc khánh 27/10/1991)
Tuốc-mê-ni-xtan thuộc miền Trung Á, Ca-xơ-piên, nằm giũa l-ran và U-dơ-bêc-ki-xtan. Tuôc-mê-ni-xtan có diện tích 488 ngàn km2, có đường biên giới chung vờ Ap-ga-ni-xtan (dài 744km), l-ran (992km), U-dơ-bêc-ki-xtan (1.621km) và đường bờ biển dài 768km; Thủ đô A-sơ-ga-bat.
 
Dân số của Tuốc-mê-ni-xtan vào giữa năm 1999 khoảng 4,8 triệu người, mật độ dân số 10 người/km2. Tỉ lệ sinh 22%o, tỉ lệ chết 7%o, tỉ lệ chết trẻ em dưới 1    tuổi là 38%o, sô con trung bình trên một phụ nữ là 2 tuổi thọ bình quân 66 tuổi (nam 62 tuổi, nữ 69 tuổi), tỉ lệ đô hóa 44%, phụ nữ có chồng sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình đạt 20%, tổng sản phẩm quổc nội năm 1997 đạt 640 USD trên đầu người.
 
Các nhóm dân tộc chính sống ở Tuốc-mê-ni-xtan bao gồm: người Tuốc-mê-ni (chiếm 73,3%), người Nga (9,8%), người U-dơ-bếc (9%), người Ca-dăc (2%) và các dân tộc khác (5,9%). Tại Tuốc-mê-ni-xtan thịnh hành các tôn giáo: đạo Hồi (chiếm 87%), giáo hội Chính thống Đông (11%). Những ngôn ngữ chính được dùng phổ biến ở đây: tiếng Tuốc-mê-ni (chiếm 72%), tiếng Nga (12%), tiếng U-dơ-bếc (9%) và các ngôn ngữ khác (7%). 100% dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết.            
 
ANH DŨNG - Báo GĐ&XH số 27 (76) (từ ngày 6/7 đến 13/7)/2000
 
Tin văn hóa 
 
• Tăng cường giao lưu văn hóa Việt Nam - Thụy Điển: Ban quản lý Dư án “Qũy giao lưu văn hóa Việt Nam -Thụy Điển”, “Văn phòng điều phối các dự án với SIDA” (Thụy Điển) do Quỹ SIDA tài trợ vừa được Bộ Văn hóa - Thông tin ký quyết định thành lập. Đây là chương trình hợp tác giữa Việt Nam với Thụy Điển nhằm giao lưu văn hoá, mở rộng quan hệ ngoại giao hai nước.    
 
P.V
 
• Vào hồi 20h ngày 12 và 13 tháng 7/2000, tại Nhà Hát Lớn, Dàn nhạc Giao hưởng Nhạc viện Quốc gia Hà Nội dưới sự chỉ huy của Nhạc trưởng Nguyễn Thiếu Hoa sẽ trình diễn các tâc phẩm chọn lọc của Việt Nam và Thế giới. Chương trình với thời lượng 120 phút. Tham gia chương trình còn có sự góp măt của hai ca sĩ, nghệ sĩ xuất sắc: NSND Lê Dung và NSƯT Quang Thọ với vai trò là người thể hiện phần lớn các tác phẩm. Sau hai buổi trình diễn tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội, Dàn nhạc và các nghệ sĩ sẽ có mặt để phục vụ công chúng thành phố Hạ Long vào hồi 20h ngày 15 và 16/7 tại Nhà Văn hóa Việt - Nhật.           
 
P.V
 
• Khai mạc Đại hội Điện ảnh lần thứ V: Đại hội chính thức khai mạc ngày 7/7 tại Hà Nội với sự tham gia của 298 đại biểu chính thức và 5% đại biểu mời (những nghệ sĩ có nhiều đóng góp cho điện ảnh nhưng do nhiều lý do chưa tham dự đại hội cơ sở) trong tổng số 850 hội viên điện ảnh cả nước. Trước ngày khai mạc chính thức, Đại hội đã thảo luận nội bộ trong 2 ngày 5 - 6/7/2000.
 
N.T
 
Báo GĐ&XH số 27 (76) (từ ngày 6/7 đến 13/7)/2000

Những yêu cầu thiết yếu khi mua phần mềm quản lý nhân sự

Quản lý nhân sự là việc vô cùng cần thiết đối với bất cứ doanh nghiệp nào khi đang trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp, văn phòng nhỏ thì có thể sử dụng quản lý trên những công cụ thông thường. Tuy nhiên đối với những quy mô kinh doanh lớn, số lượng thành viên của công ty lên tới hàng trăm , hàng nghìn người và nhiều hơn thế nữa. Thì bắt buộc bạn cần phải sử dụng những phần mềm quản lý nhân sự chuyên dụng thì mới có thể quản lý được với số lượng lớn như vậy. Vậy khi mua một phần mềm chuyên về quản lý nhân sự cần chú ý những gì?
 
Một phần mềm quản lý chuyên về nhân sự của công ty hoạt động tốt hiệu quả là một phần mềm có thể đáp ứng được những nhu cầu cơ bản trong công việc như:
 
Quản lý tốt về thông tin nhân viên
Quản lý tốt thông không đơn thuần là chỉ quản lý những thông tin cơ bản như họ tên,ngày tháng năm sinh, địa chỉ,quê  quán, liên hệ, số chứng minh thư nhân dân… Mà còn phải quản lý những vấn đề khác như: chức vụ, làm ở bộ phận nào, quyền lợi và trách nhiệm, mức lương, các chế độ bảo hiểm của nhà nước, nhân viên thời vụ hay chính thức, trình độ, khả năng làm việc… đều cần phải được nêu chi tiết và đầy đủ và được cấp mã vạch riêng để thuận tiện cho công việc quản lý.
 
Lưu giữ hồ sơ
Trong quá trình làm việc, nhân sự cũng như những quy định của công ty, bộ phận chuyên quản lý về nhân sự trong công ty thay đổi thất thường cũng như lượng hồ sơ ra vào liên tục. Vậy nên việc quản lý hồ sơ của nhân viên nếu bằng tay thì với số lượng lớn như vậy khi tìm sẽ rất khó khăn cũng như gây mất thời gian.
 
Báo cáo
Đây là yêu cầu của bất cứ một phần mềm quản lý nào không chỉ riêng phần mềm quản lý nhân sự. Việc báo cáo tự động thay đổi sau mỗi lần bạn nhập, rút cũng như chỉnh sửa dữ liệu sẽ giúp cho bạn có thể tiết kiệm được tối đa thời gian cũng như dê dàng thống kê tình trạng nhân sự ngay lúc đó của công ty, quy mô kinh doanh để có phương pháp giải quyết nhanh chóng. 
 
Hi vọng với những chia sẻ trên của chúng tôi bạn đã có thêm những thông tin hữu  ích về những lưu ý trước khi mua bất cứ một phần mềm về quản lý nhân sự nào cũng cần phải có để phục vụ cho công việc quản lý được dễ dàng hơn nhất là đối với những công ty, quy mô kinh doanh với số lượng lớn nhân sự đang hoặt động.

Xem thêm: http://fososoft.com/san-pham/phan-mem-quan-ly-doanh-nghiep-tong-the-erp/
Xem bài viết trước: http://www.tinhyeuvoidienanh.com/news/detail/nhung-luu-y-khi-mua-phan-mem-quan-ly-kho-51.html
 

Phạm vi đề thi tuyển sinh đại học năm 2000 (Phần 2)

Ban A gồm các dạng hoàn thành đoạn đối thoại, sắp xếp câu đã xáo trộn thành bài hội thoại hợp lý, xây dựng bài hội thoại theo tình huống hoặc theo từ gợi đặt câu hỏi khi biết câu trả lời và ngược lại, tập viết, sắp xếp lại các từ hoặc nhóm từ cho sẵn thành câu có nghĩa, đặt câu với từ, nhóm từ gợi ý; điền vào văn bản; viết thư trao đổi, viết lại câu, viết một đoạn văn ngắn về một chủ đề. Bài tập ngôn ngữ, chia động từ trong ngoặc đơn cho phù hợp chọn a, b, c điền vào chỗ trống cho phù hợp (kiểm tra về loại từ), viết câu phức từ hai câu đơn theo từ gợi ý), Bài tập cấu tạo từ gốc từ, tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
- Chương trinh bắt đầu (HS học tiếng Anh bắt đầu từ lớp 10-12):
 
Dạng bài tập cơ bản kiến thức ngôn ngữ dành cho ban C: điền từ cho sẵn vào chỗ trống, chuyển đổi câu, ghép câu, đặt câu với từ cho sẵn, đặt câu hỏi khi biết câu trả lời và ngược lại, viết câu theo tình huống, cho câu tìm lỗi, chọn a, b, c, d điền vào chỗ trống; chọn từ, cụm từ giải nghĩa cho câu. Dạng bài nghe: Nghe - ghi thông tin chính; nghe - trả lời câu hỏi; nghe - chọn câu đúng sai theo nội dung; nghe - điền vào vào đoạn hội thoại; nghe - đặt câu hỏi theo dạng gợi ý. Dạng hỏi nói theo tình huống trả lời các câu hỏi; thảo luận; đóng vai theo tình huống. Nghe - nói dưới dạng điền từ vào chỗ trống của đoạn hội thoại: sắp xếp lại thành bài hội thoại hợp lý; xây dựng hội thoại. Dạng đọc, đọc - hiểu đặt câu hỏi, trả lời câu hỏi; điền từ vào chỗ trống trong đoạn văn hoặc trong các từ cho sẵn; đọc đoạn văn hoàn chỉnh các câu đúng sai. Dạng viết đoạn văn dùng từ gợi ý, viết thư trao đổi.
 
Dạng bài tập cơ bản về kiến thức ngôn ngữ dành cho ban A, ban B và chưa phân ban là: ghép câu đơn thành câu phức; không có bài chuyên luyện nghe; phần hỏi đáp theo tình huống; phẩn đọc, đọc - hiểu đặt câu hỏi. Dạng viết viết cấp độ câu, điền vào các văn bản.
 
P.V - Báo GĐ&XH số 27 (76) (từ ngày 6/7 đến 13/7)/2000